Rác thải y tế - Mối nguy hại cho sức khỏe, môi trường

Cập nhật, 10:39, Thứ Hai, 16/04/2012 (GMT+7)

Hiện nay vấn đề chất thải y tế và việc xử lý chất thải là một trọng tâm của ngành Y tế đang được tập trung giải quyết để bảo vệ sức khỏe và môi trường sống của cộng đồng.

Gần 50% bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước thải

Trong số 1.263 bệnh viện, có 53,4% bệnh viện có công trình xử lý nước thải, 46,6% hầu như không có hệ thống xử lý nước thải. Đối với chất thải rắn, 90% bệnh viện thu gom hàng ngày, 67% bệnh viện xử lý bằng lò đốt, than bùn hoặc công nghệ đốt khác, 32,2% xử lý bằng lò thủ công hoặc chôn lấp trong bệnh viện. Các trạm y tế xã hầu như chưa có hệ thống xử lý rác thải, phải chôn lấp. Những con số này được GS.TS Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Quản lý Môi trường y tế, Bộ Y tế đưa ra tại hội thảo “Giải pháp Công nghệ xử lý chất thải cho các bệnh viện ở Việt Nam” tổ chức vào ngày 12/4 tại Hà Nội.

Một bãi rác thải y tế
Một bãi rác thải y tế

Về thực trạng xử lý chất thải tại các bệnh viện ở Việt Nam, GS.TS Nguyễn Huy Nga cho biết, mỗi ngày có 120 nghìn m3 nước thải y tế được thải ra, 350 – 400 tấn chất thải y tế, trong đó có 42 tấn chất thải y tế độc hại cần được xử lý. Dự kiến đến năm 2015 có trên 70 tấn/ngày, đến năm 2020 có trên 93 tấn/ngày. Việc xử lý chất thải y tế ở Việt Nam hiện nay hầu hết chưa có hệ thống xử lý nước thải, chủ yếu xử lý sơ bộ bằng hóa chất, bể phốt, bể tự hoại... còn xử lý chất thải rắn y tế chủ yếu sử dụng bằng lò đốt thủ công, hoặc thuê xử lý và tự chôn lấp.

Việc sử dụng lò đốt thủ công để xử lý chất thải “nhả khói”, gây ô nhiễm môi trường. Trong khi đó, áp dụng các công nghệ mới của các nước lại khá tốn kém, hệ thống đầu tư đắt đỏ. Ông Nguyễn Huy Nga khẳng định, sẽ phối hợp cùng các đơn vị tìm ra phương án tối ưu nhất để xử lý chất thải y tế, đồng thời giá thành phù hợp.

Tại cuộc hội thảo, bà Catherine Galtier, Giám đốc điều hành APB Environnement, một công ty của Pháp có mặt trong thị trường công nghệ sinh học từ gần 20 năm nay, khẳng định, việc xử lý tất cả các loại rác thải bệnh viện, dù là chất thải rắn hay nước thải, có ô nhiễm hay không ô nhiễm, APB Environnement sẽ đưa ra những giải pháp phù hợp với chính sách phát triển bền vững ở Việt Nam, nhằm hạn chế thải carbon vào môi trường vì các giải pháp này không cần sử dụng đến biện pháp thu gom và vận chuyển, đảm bảo bảo vệ sức khoẻ người dân và thân thiện với môi trường.

Theo bà Catherine Galtier, công nghệ của APB Environnement được phát triển dựa trên việc sử dụng các gốc vi khuẩn phần lớn được tách từ các mẫu lấy từ môi trường, từ người, động vật hoặc cây cỏ ở khắp nơi trên thế giới. Đây là các mẫu lấy hoàn toàn từ thiên nhiên, không bị biến đổi gene.

Nguy cơ đối với sức khỏe

Các loại chất thải từ các cơ sở y tế thải ra gồm chất thải thông thường, chất thải y tế, chất thải hóa học, chất thải phóng xạ và các vật chứa có áp suất. Chất thải y tế có các nhóm khác nhau phải được phân loại càng gần nơi thải ra càng tốt để có biện pháp xử lý phù hợp. Chất thải y tế có 5 nhóm, hiện nay mỗi nhóm có một phương pháp xử lý tùy theo điều kiện của mỗi cơ sở y tế.

Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thương tích. Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy hại, cả những người ở trong hay ở ngoài bệnh viện đều có nguy cơ tiềm ẩn.

Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua nhiều đường: qua vết thương, vết cắt trên da; qua niêm mạc; đường hô hấp; đường tiêu hóa. Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng sinh và kháng hóa chất khử khuẩn có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất thải y tế không an toàn. Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thương trên da, mà còn gây nhiễm trùng vết thương nếu chúng bị nhiễm bẩn. Thương tích do vật sắc nhọn là tai nạn thường gặp nhất trong cơ sở y tế.

Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong cơ sở y tế là chất nguy hại (ví dụ chất gây độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, gây độc) nhưng thường ở khối lượng thấp. Phơi nhiễm cấp tính hoặc mãn tính đối với hóa chất qua đường da niêm mạc, qua đường hô hấp, tiêu hóa.

Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế bào. Chúng có thể gây kích thích hay gây tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da.

Đối với nguy cơ của chất thải phóng xạ, cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định những tác động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến các vấn đề đột biến gen trong dài hạn.

Thanh Thúy

.
.
.