Cảng Cái Lân, Quảng Ninh là cảng lớn và hiện đại nhất VN hiện nay, cho phép tàu có trọng tải từ 3-4 vạn tấn chở đầy tải vào xếp dỡ hàng hóa. Quảng Ninh là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có nhiều tài nguyên, tốc độ phát triển kinh tế nhanh, năng động và còn có di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, thuận lợi cho phát triển du lịch biển. Ngoài ra, cảng Cái Lân được nối với các tỉnh miền Bắc bằng hệ thống đường thủy nội địa rất thuận lợi.
Việc đưa cảng Cái Lân vào hoạt động đã mở ra khả năng mới cho hệ thống cảng biển VN trong việc tiếp nhận các loại tàu lớn, hiện đại của thế giới ra, vào và đáp ứng yêu cầu về CNH, HĐH đất nước.
Đánh giá mô hình cho thuê quản lý, khai thác KCHT cầu cảng Cái Lân
Thực hiện mô hình cho thuê quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng cảng biển Cái Lân đã nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối với hệ thống cảng biển. Mô hình cho thuê KCHT bước đầu tách bạch được hoạt động KD khai thác và hoạt động KD xếp dỡ hàng hóa. Qua đó, có thể dễ dàng hơn trong việc đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp dịch vụ. Có những tác động đến các nhà quản lý và các DN như: Đối với các nhà quản lý cần quan tâm đến hiệu quả KT của các dự án đầu tư xây dựng KCHT cảng biển.
Hiệu quả đầu tư KCHT cần được định lượng rõ ràng, không để xáo trộn với các hoạt động dịch vụ hàng hải để có thể điều chỉnh chính sách đầu tư kịp thời, phù hợp với từng giai đoạn phát triển KT-XH của vùng miền. Đối với các DN dịch vụ cảng biển khi thuê KCHT cảng biển để khai thác các DN phải chịu áp lực cao hơn so với mô hình giao khai thác. Các DN này chỉ phải chú tâm vào đầu tư, áp dụng công nghệ tiên tiến vào hoạt động xếp dỡ hàng hóa, không phải lo đầu tư xây dựng cảng, như vậy sẽ chuyên sâu nghiệp vụ hơn và chuyên nghiệp hơn. Đáp ứng được yêu cầu tách bạch giữa quản lý KCHT cảng biển và quản lý các hoạt động dịch vụ hàng hải theo lộ trình hội nhập AFTA mà Chính phủ đã cam kết.
Theo báo cáo của cảng Quảng Ninh (đơn vị thuê) thì từ 2004 đến 2007 kết quả SXKD đạt được là: Tổng doanh thu đạt trên 152 tỷ đồng, khấu hao tài sản trên 10 tỷ đồng, nộp NSNN hơn 7,6 tỷ đồng. Ngoài ra, cảng Quảng Ninh đã thực hiện tốt quy trình quản lý, khai thác tài sản thuê. Hoạt động SXKD của Cảng vượt chỉ tiêu về sản lượng hàng hóa, doanh thu và nộp thuế. Ngoài việc thực hiện nghĩa vụ đầy đủ với Nhà nước, so với mô hình giao quản lý, khai thác đã bước đầu thu hồi được vốn đầu tư xây dựng KCHT cảng biển (năm 2006 đơn vị nộp tiền thuê KCHT hơn 3,4 tỷ đồng).
Những vướng mắc tồn tại
Thông tư 102/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về quản lý tiền thuê và thanh toán kinh phí sửa chữa KCHT cầu cảng Cái Lân là khó thực hiện vì khi có nhu cầu sửa chữa, DN phải báo cáo Cục HHVN để tổ chức thẩm định, tổng hợp báo cáo Bộ GTVT và Bộ Tài chính nên mất rất nhiều thời gian trong lúc nhu cầu sửa chữa cần khẩn trương để phục vụ SX của DN cảng. Quy trình, thủ tục để tiến hành sửa chữa trang thiết bị còn phức tạp, rườm rà, tất cả đều báo cáo Cục HHVN giải quyết, mất thời gian cho khâu hoàn tất thủ tục và báo cáo.
Thí dụ như việc sửa chữa đường ống cấp thoát nước do ẩn tỳ, lún đường, việc sửa chữa hư hỏng nhà kho văn phòng cảng và đầu tư lắp đặt hệ thống cẩu container bị hư hỏng do lốc tháng 11-2006. Bên thuê là DN Nhà nước được chỉ định nên chưa chủ động trong việc sửa chữa, bảo quản tài sản phục vụ cho hoạt động của chính mình như sự cố đèn chiếu sáng, tắc công trình phụ... Ngoài ra, DN thuê cảng phải nộp tiền thuê hàng năm do vậy gặp khó khăn trong thời gian đầu khi phải đầu tư thêm trang thiết bị, giải quyết các sự cố KT hoặc rủi ro trong kinh doanh.
Sau 3 năm khai thác có thể đánh giá mô hình cho thuê quản lý, khai thác cảng đã đi đúng hướng, Nhà nước có thể thu hồi được vốn đầu tư trong khi DN cảng vẫn thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và đảm bảo đời sống của người lao động. Thời gian tới, để việc cho thuê KCHT cầu cảng Cái Lân đạt hiệu quả, Nhà nước cần phân cấp cho Cục Hàng hải thanh quyết toán kinh phí duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa kết cấu hạ tầng, giao kế hoạch kinh phí hàng năm để Cục giải quyết được nhanh chóng những hư hỏng phát sinh trong quá trình khai thác, không làm ảnh hưởng đến SXKD của DN, xóa bỏ mọi hình thức hỗ trợ của Nhà nước đối với hoạt động KD khai thác cảng để phù hợp với quy định của WTO và AFTA, nhanh chóng hoàn thiện tuyến đường sắt vào cảng để tăng năng lực vận chuyến hàng hóa vào cảng.
Duy Tiến Số lượt đọc:
441
-
Cập nhật lần cuối:
05/10/2007 08:51:52 AM |