Đến nay là hơn một năm khu vực cảng mở Cát Lái, khu vực cảng biển thương mại tự do đầu tiên ở Việt Nam chính thức được khai trương sau Quyết định số 37/2006/QĐ - TTg. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, hiệu quả đạt được của Cảng mở còn khá khiêm tốn. Nguyên nhân chính là do chức năng hoạt động của cảng mở còn hạn hẹp, vướng mắc nhiều vấn đề về thủ tục hải quan, khâu thanh toán qua ngân hàng, hành lang pháp lý chưa thống nhất.
Theo thống kê của Công ty Tân Cảng Sài Gòn, từ tháng 5/2006 (thời điểm khu vực cảng mở chính thức được khai trương) đến hết tháng 4/2007, tổng sản lượng hàng hóa thông qua khu vực cảng mở Cát Lái đạt 26.792 TEUs, trong đó, sản lượng trung chuyển quốc tế đạt 26.677 TEUs, chiếm 99,56%, sản lượng sang container đạt 2.233 TEUs, chiếm 0,34% và sản lượng hàng lẻ đạt 25 TEUs, chiếm 0,1%.
Có thể thấy, hiện tại mới chỉ có 3 loại hình dịch vụ được thực hiện tại khu vực cảng mở là dịch vụ trung chuyển, quá cảnh hàng nguyên container (loại hình dịch vụ mà Tân Cảng đã thực hiện từ trước khi thí điểm khu vực cảng mở), dịch vụ hàng lẻ (vốn là dịch vụ chiến lược mà khu vực cảng mở nhắm tới song mới chỉ chiếm một sản lượng quá thấp: 0,1% như đã nói trên) và dịch vụ sang container (loại hình dịch vụ mà theo lý thuyết sẽ tận dụng được sự đơn giản về thủ tục hải quan cảng mở để giảm chi phí thuê container đồng thời khách hàng cũng giữ được bí mật kinh doanh khi hàng qua cảng mở, tuy nhiên, sản lượng cũng chưa nhiều). Các dịch vụ khác như đóng gói, đóng gói lại và hàng kinh doanh nhập khẩu qua cảng mở mới chỉ dừng lại ở mức thăm dò.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, theo nhiều chuyên gia, trước tiên là do chức năng hoạt động của cảng mở còn hạn hẹp. Hầu hết các dịch vụ đóng gói, đóng gói lại, mua bán, chuyển quyền sở hữu, sang container… đã được thực hiện ở các kho ngoại quan.
Mặt khác, việc chuyển cảng cho hàng của cảng mở chưa được phía hải quan thống nhất vì trong quy chế ban hành kèm theo Quyết định 37 của Thủ tướng chưa quy định cụ thể việc chuyển cảng từ cảng mở đi các cảng khác và ngược lại.
Việc thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể về quy trình thủ tục hải quan cũng được coi là nguyên nhân chính dẫn tới kết quả khiêm tốn trên. Nhận định chung, cơ chế hải quan cho cảng mở trong Quy chế ban hành theo Quyết định 37 của Chính phủ thoáng, nhưng khó thực hiện vì không có thông tư hướng dẫn cụ thể.
Đồng thời, trình tự, thủ tục khi thực hiện một số dịch vụ như thu gom hàng lẻ, chuyển cảng… trong nội bộ hải quan cũng chưa thống nhất. Tình trạng trên khiến nhiều khách hàng e ngại, không dám mạo hiểm trước những rủi ro có thể gặp khi sử dụng dịch vụ cảng mở.
Cùng với 2 nguyên nhân chính trên thì khó khăn trong khâu thanh toán qua ngân hàng cũng như việc chưa có hướng dẫn cụ thể về thuế thu nhập cũng là trở ngại lớn đối với hoạt động của cảng mở.
Thực tế hiện nay, khách hàng, đại lý có hàng xuất nhập hoặc trung chuyển, quá cảnh, mua bán tại khu vực cảng mở khi thanh toán qua ngân hàng gặp rất nhiều rắc rối vì trong bộ chứng từ thanh toán yêu cầu phải có Tờ khai hải quan về hàng hóa trong khi Quy chế cảng mở chỉ yêu cầu khi đưa hàng vào cảng mở chỉ nộp Lược khai hàng hóa cho cơ quan hải quan mà thôi.
Ngoài ra, khi mua bán, kinh doanh hàng hóa tại khu vực cảng mở sẽ phát sinh thu nhập của khách hàng. Câu hỏi đặt ra là thu nhập này có phải chịu thuế không? Nếu có thì thuế suất là bao nhiêu? Hàng thu như thế nào?
Trên thực tế, việc hình thành “khu vực cảng mở” thực chất là chuyện “cũ người, mới ta”. ở một số nước trong khu vực như Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Indonesia... “khu vực cảng mở” đã xuất hiện từ khoảng những năm 1990 mà “tiền đề của nó cũng là hoạt động trung chuyển hàng hoá sau phát triển mạnh lên và được gọi là “Khu thương mại tự do”. Việc tiến tới xây dựng những cảng mở của Việt Nam ngang tầm quốc tế là một hướng đi không thể khác trong xu thế hội nhập chung. Tuy nhiên, vì là hoạt động mới nên trong quá trình thực hiện khó có thể tránh khỏi những khó khăn về quản lý, thực hiện.
Vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý hiện nay là làm thế nào xây dựng, sửa đổi cho được một quy chế riêng chặt chẽ, kín kẽ mà vẫn đảm bảo sự hoạt động thuận tiện cho các chủ hàng, không ảnh hưởng đến lưu thông hàng hoá.
Hiệp Vũ Số lượt đọc:
400
-
Cập nhật lần cuối:
19/05/2007 11:30:28 AM |