Đến vùng Cần Giuộc, tỉnh Long An, hỏi thăm chủ bến đò Kinh Đông Thạnh chẳng mấy người là không biết. Khách đã từng đi qua bến đò này, dù chỉ một lần cũng không thể quên hình ảnh người lái đò vui tính, cởi mở, luôn phục vụ khách tận tình, chu đáo và đặc biệt là giọng ca vọng cổ rất "mùi mẫn" của anh. Đó chính là anh út Dũng người chủ bến kiêm chủ đò ở nơI ngã ba kênh nước mặn và sông Cần Giuộc (thuộc địa phận xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An).
Tên thật của anh là Phạm Thanh Lợi, thường gọi là Dũng, vì anh là con út nên theo tập quán của người dân Nam Bộ, người ta kêu anh bằng cái tên Út Dũng. Anh kể, sinh ra trong một gia đình có tới 7 người con, anh theo nghiệp chở đò ngang của ba, má từ ngày còn con nít. Năm nay ông, bà đã trên 70 tuổi. Hồi còn trẻ, cả ông và bà đều tham gia phục vụ Cách mạng. Ba của anh Út Dũng có hai người em trai đều lên đường theo quân giải phóng và cùng hy sinh vào cuối năm 1965.
Do có kinh nghiệm sông nước và thông thuộc địa hình, nên ông đã vinh dự được tổ chức giao nhiệm vụ quan trọng đó là vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men bằng đường thủy tiếp tế cho quân giải phóng. Không biết bao nhiêu tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men… đã được ông cùng đồng đội bí mật vận chuyển đến địa điểm tập kết một cách an toàn, góp phần giúp bộ đội ta đánh thắng giặc Mỹ. Để ghi nhận sự hy sinh và công lao của gia đình, ba, má anh đã được Nhà nước phong tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì.
Hòa bình, thống nhất đất nước, ông lại trở về với bến đò thân thuộc, vừa đưa rước khách qua sông, vừa nuôi dạy các con ăn học. Mặc dù nghèo, nhưng các con của ông, bà đều được ăn học hết lớp 12, đến nay đều đã có công ăn việc làm ổn định và ra ở riêng. Chỉ có mình anh út Dũng là kế tục được nghiệp chở đò của cha. Dù thuộc diện gia đình chính sách, nhưng mọi người trong gia đình đều tự lực vươn lên, không bao giờ có tư tưởng ỉ lại, trông chờ.
Chả thế mà đến nay, cả gia đình anh gồm 3 thế hệ vẫn sống chung trong một nếp nhà gỗ lá đơn sơ, cùng tài sản quý nhất là chiếc đò máy, nguồn sống chủ yếu và duy nhất của cả nhà là dựa vào việc chở khách ngang sông. Anh út Dũng còn nhớ như in lời ba dặn ngày trao lại con đò cho anh: “Hồi trước, gian khổ hy sinh là vậy mà tau hổng có ngán, chuyến nào, chuyến đó đều xuôi chèo mát mái. Vậy bây giờ, mầy phải làm thế nào cho xứng với nghiệp của ba, má mầy nghen con!”.
Sau khi tiếp nhận “sản nghiệp” chèo đò khách, nhớ lời ba dạy, anh đã tận tâm, tận lực phục vụ bà con với một niềm mong mỏi là: giúp khách qua sông được bình an, nhanh chóng và thuận lợi. Để đảm bảo chắc chắn cho sự an toàn trong quá trình hành nghề chở đò, năm 1996 út Dũng đã theo học lớp đào tạo điều khiển phương tiện chở khách do Sở GTVT tỉnh Long An mở và đã được cấp Bằng thuyền trưởng hạng Ba.
Để để phục vụ khách được thuận lợi hơn, với số vốn tích cóp được sau bao năm tháng chở đò, vợ chồng anh đã bàn bạc và vay thêm ngân hàng một số vốn để đầu tư xây dựng đường lên xuống ở bến đò bằng bê tông vững chắc để phục vụ khách đi đò được sạch sẽ, thuận lợi, chấm dứt tình trạng trơn trượt như trước đây. Đến thăm bến đò của anh Út Dũng hôm nay sẽ thấy được một diện mạo mới ở trên dòng kênh này.
Ở cả hai đầu bến anh đã lắp đặt đầy đủ báo hiệu bến khách ngang sông, màu sắc sáng rõ đúng theo quy chuẩn báo hiệu ĐTNĐ 4099; có nhà chờ rộng rãi, thoáng mát và được bố trí đủ ghế ngồi cho khách chờ đò; đường lên xuống bến sạch sẽ phong quang, đảm bảo mỹ quan và cảnh quan môi trường. Đến đầu năm 2007, anh đã vay mượn và mua một chiếc đò mới, sức chở 12 người, đảm bảo các yêu cầu về an toàn kỹ thuật và được đăng ký, đăng kiểm đầy đủ thay cho chiếc đò cũ đã hơn 30 năm sử dụng và đã qua nhiều lần sửa chữa, nay đã không còn sử dụng được nữa. Ngoài ra, anh còn mua và trang bị đầy đủ số lượng áo phao theo đúng qui định để bà con đi đò sử dụng.
Đứng trước khối tài sản là chiếc đò máy mới toanh, còn ánh màu sơn mới in bóng lung linh trên mặt nước, út Dũng phấn khởi nói: “Cái nghiệp chở đò này, nếu không phảI là người thực sự yêu nghề thì khó lòng mà theo được. Lúc nào cũng phải biết đặt mình ở trong trạng thái là “người làm dâu trăm họ” mới được, vì khách đi đò trăm người thì có một trăm tính nết khác nhau, sợ nhất là mấy người nhậu xỉn và đám học sinh, cứ lên đò là chúng chọc ghẹo nhau khiến nhiều phen đò cứ tròng trành từ đầu này sang đầu bến kia. Ngoài ra, phải kể đến mấy chiếc tàu lớn, rời bến rồi mà gặp chúng là phải coi chừng đụng sóng lớn, nếu không biết bắt nước, lựa sóng là lật đò như chơi!”.
Cũng như hàng trăm bến đò khác ở vùng miền Tây Nam Bộ, khách qua sông hầu hết là nông dân và người buôn bán nhỏ. Trình độ hạn chế cộng với thói quen tùy tiện đã ăn sâu vào tiềm thức con người nên ý thức chấp hành Luật Giao thông ĐTNĐ của người dân cũng rất khác nhau. Đó là bức tranh muôn màu, muôn vẻ và cũng vô cùng phức tạp của nghề chở khách ngang sông. Nhiều đêm mưa gió bão bùng, khi có người cần việc gấp như bệnh nặng phải đi cấp cứu, với tấm lòng nhân ái “thương người như thể thương thân”, anh vui vẻ đưa họ qua sông kịp thời chữa bệnh mà không đòi hỏi gì.
Nhờ có sự đầu tư đúng mức về bến và phương tiện, cộng với lòng yêu nghề và kinh nghiệm dày dạn sóng, gió nơi ngã ba sông, hơn 20 năm gắn bó với con đò bên dòng kênh nước mặn, khách qua sông chưa bao giờ có lời phàn nàn về cung cách làm nghề của anh.
Nhưng niềm vui lớn nhất mà anh có được là đò anh đã đưa hàng triệu lượt khách qua sông an toàn. Để quên đi những nỗi vẫt vả sau một ngày “làm dâu trăm họ” ấy, anh lại ngồi trên mạn thuyền cùng với anh em bạn bè lai rai ly rượu quê ấm áp và cùng ngân nga câu vọng cổ da diết và mặn mòi như dòng nước kênh nước mặn quê anh, để rồi khi bình minh lên, anh lại cùng con đò miệt mài đưa khách qua sông…
Hùng Mạnh
Số lượt đọc:
405
-
Cập nhật lần cuối:
06/10/2007 12:54:20 PM | Đánh giá của bạn về bài viết: Tổng số:
4
Trung bình:
2.8 |