Những biến động giá VLXD rất lớn trong thời gian vừa qua khiến cho hầu hết các dự án XDCB nói chung và ngành GTVT nói riêng chậm tiến độ, nhà thầu lao đao. Mặc dù giá nhiều loại VLXD đội lên rất cao nhưng tại nhiều khu vực vẫn luôn xảy ra tình trạng khan hiếm. Chính vì vậy, việc cần có một quy hoạch tổng thể cho lĩnh vực này là điều cấp cấp thiết hơn lúc nào hết...
Tăng giá và khan hiếm
Tình hình biến động giá VLXD trong năm 2007 và đặc biệt những tháng đầu năm 2008 đã làm cho các nhà thầu trong lĩnh vực XDCB nói chung và ngành GTVT nói riêng lao đao, mất khả năng kiểm soát tình hình và đối mặt với rất nhiều rủi ro. Con số thống kê diễn biến giá cả một số VLXD chính trong năm 2007 và 2008 đã làm cho các nhà thầu chóng mặt. Thị trường giá VLXD biến động từng ngày, nay một giá, mai lại một giá rất khác. Đơn cử, giá sắt thép những tháng cuối năm 2007 chỉ khoảng 8.500đ/kg nhưng đầu năm 2008 lên 16.000- 17.000đ/kg, thậm chí có thời điểm 20.000 đồng. Tương tự như vậy, giá xi măng PC40 cũng tăng gấp 2 lần.
Các loại vật liệu khác như nhựa đường, đá, cát,… đều tăng từ khoảng 50 đến 100%. Rất nhiều dự án giao thông so với thời gian bắt đầu khởi công, giá của nhiều loại VLXD đã tăng lên khoảng 3 lần. Đơn cử như Dự án xây dựng cầu Vĩnh Tuy. Theo lãnh đạo Tổng công ty xây dựng CTGT 1, khi mới khởi công vào năm 2005, giá sắt thép mới chỉ hơn 5.000 đ/kg, nhưng thời gian vừa qua, có thời điểm các nhà thầu phải mua 13.000 - 17.000đ/kg. Thậm chí có lúc giá thép lên hơn 20.000 đồng/kg, xi măng hơn 400đ/kg nay đã lên hơn 900đ/kg. Đây chính là một trong những lý do chủ yếu khiến Dự án xây dựng cầu Vĩnh Tuy mặc dù là dự án giao thông trọng điểm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long nhưng đã bị đình trệ trong nhiều năm.
Một số dự án khác như 18 dự án ODA lớn của Bộ GTVT có tổng mức đầu tư khoảng 21.000 tỷ đồng thì chỉ trong 3 năm thực hiện đã tăng khoảng 40%. Mặc dù đối với các dự án ODA, lâu nay việc điều chỉnh giá hợp đồng thường được thực hiện bởi các công thức tính trượt giá, song kể từ khi giá VLXD tăng đột biến hoặc do khoảng cách cung cầu rất lớn dẫn đến không chỉ nhà thầu mà các chủ đầu tư cũng mất khả năng kiểm soát tình hình.
Mặc dù giá VLXD tăng cao như vậy nhưng tại một số khu vực vẫn thường xuyên xảy ra tình trạng khan hiếm, đặc biệt là khu vực Nam Bộ. Các dự án giao thông triển khai tại khu vực này thường xuyên bị đình trệ do các nhà thầu không mua được VLXD. Thép thường xuyên phải chuyển từ phía Bắc vào, cát có khi phải vận chuyển từ Campuchia. Một số vật liệu khác như xi măng, đá nhiều thời điểm cũng rất khó mua. Sắp tới đây, rất nhiều dự án thành phần của đường Hồ Chí Minh tại khu vực Nam Bộ như: Chơn Thành- Đức Hòa; Năm Căn- Đất Mũi, nhưng theo lãnh đạo Ban QLDA đường Hồ Chí Minh, rất nhiều nhà thầu chuẩn bị bỏ thầu bày tỏ lo ngại tình trạng khan hiếm VLXD sẽ làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai sau này.
Cần một quy hoạch vĩ mô
Theo các chuyên gia trong lĩnh vực XDCB, để khắc phục và giải quyết tình trạng tăng giá và khan hiếm VLXD, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ từ công tác quản lý vĩ mô đến sản xuất thực tế, xây dựng mô hình phát triển bền vững phải mang tính xã hội. Hiện nay thị trường VLXD Việt Nam đã trở thành một trong những thị trường có tốc độ phát triển nhanh bao gồm nhiều chủng loại sản phẩm với kiểu dáng, mẫu mã, màu sắc khá đa dạng, chất lượng ngày một được nâng lên và giá sản phẩm có xu hướng giảm dần theo xu thế chung, đồng thời có nhiều nguồn gốc xuất xứ trong và ngoài nước. Tuy nhiên, thị trường VLXD cũng bộc lộ những vấn đề bất cập giữa cung và cầu.
Theo dự báo của Bộ Xây dựng, nhu cầu VLXD nước ta sẽ phát triển rất nhanh và mạnh trong giai đoạn tới. Đặc biệt, từ nay đến năm 2020 nhu cầu xây mới và mở rộng các công trình cơ sở hạ tầng như: giao thông đường bộ, cầu cống, bến cảng; các công trình thủy điện,... ngày càng phát triển, Dự báo đến năm 2020 tỷ lệ đô thị Việt Nam sẽ tăng lên đến hơn 45%.
Mới đây, Bộ Xây dựng đã trình Chính phủ Quy hoạch tổng thể phát triển VLXD Việt Nam đến năm 2020. Đây là một động thái rất tích cực, nếu phương án quy hoạch được thực hiện, sản lượng một số chủng loại VLXD ở Việt Nam năm 2020 sẽ tăng gấp nhiều lần so với sản lượng VLXD hiện nay. Đơn cử như xi măng gấp 3,45 lần; vật liệu xây dựng gấp 1,96 lần; đá xây dựng gấp 2,58 lần; cát xây dựng gấp 2,6 lần,... Chính vì vậy, trong thời gian tới, các cơ quan chức năng, doanh nghiệp sản xuất VLXD cũng cần chủ động lập kế hoạch tăng công suất, đổi mới công nghệ để theo kịp nhu cầu VLXD của thị trường.
Đức Thắng Số lượt đọc:
200
-
Cập nhật lần cuối:
19/08/2008 03:52:20 PM
Ý kiến của bạn: | Đánh giá của bạn về bài viết: Tổng số:
1
Trung bình:
5 |