Mặc dù đang được xem xét ở giai đoạn Báo cáo giữa kì, song cũng vẫn rất cần phải lên tiếng đối với bản "Quy hoạch GTVT đường bộ Việt Nam đến năm 2020" mà Cục ĐBVN đang chủ trì, được thực hiện bởi Viện Chiến lược và Phát triển GTVT. Bởi trong quy hoạch tổng thể được xây dựng có sự ôm đồm quá nhiều dự án và tồn tại một khoảng cách quá xa giữa quy hoạch với thực tế khả thi. Hậu quả, dễ thấy nhất là sẽ không xác định được chính xác những dự án đầu tư hiệu quả nhất, đầu tư tràn lan không có trọng tâm, hiệu quả đầu tư thấp.
Phần 5 của Báo cáo, trình bày về “Quy hoạch phát triển GTVT đường bộ đến 2020 và định hướng đến 2030”. Mục tiêu Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng GTĐB đến 2020 được đưa ra là: Đến 2010 xây dựng 8 tuyến đường bộ cao tốc với chiều dài khoảng 700km, đến 2020 xây dựng 13 tuyến với chiều dài khoảng 1.709km, đưa tổng số km đường bộ cao tốc vào năm 2020 là 2.639km; Hoàn thành việc khôi phục, nâng cấp hệ thống đường bộ hiện có. Đưa hệ thống quốc lộ vào đúng cấp kĩ thuật thống nhất trên cả nước. Hoàn thành xây dựng các cầu lớn cần thiết trên các tuyến quốc lộ vào 2015, loại bỏ 100% cầu yếu trên quốc lộ; Hoàn thành các đường vành đai đô thị, đường hướng tâm, các trục đô thị chính. Tỉ lệ vận chuyển khách công cộng Hà Nội đạt 25%, TP Hồ Chí Minh 15%. 100% đường tỉnh được trải mặt nhựa hoặc bêtông xi măng vào năm 2015. Đến 2010 có 100% xã, cụm xã có đường ôtô đến trung tâm, trong đó 95% mặt đường bằng vật liệu cứng. Xóa 90% cầu khỉ ở ĐBSCL.
Với mục tiêu này, Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng GTĐB đề cập lần lượt các tuyến đường cụ thể với vị trí (điểm đầu, điểm cuối), chiều dài tuyến, tiêu chuẩn cấp đường, nằm trong các hệ thống đường chính:
Hệ thống quốc lộ: Các trục dọc Bắc - Nam (gồm các tuyến: QL1A, đường HCM, đường ven biển), hệ thống các quốc lộ nan quạt thuộc khu vực miền Bắc, miền Trung, miền Nam;
Hệ thống đường bộ cao tốc, gồm tuyến cao tốc Bắc - Nam (cao tốc Bắc - Nam phía Tây dài 2221km và cao tốc Bắc - Nam phía Tây dài 1321km), đường cao tốc khu vực phía Bắc (gồm 2 tuyến cao tốc Bắc - Nam và 6 tuyến hướng tâm kết nối với Thủ đô Hà Nội, dài 969km), đường cao tốc khu vực miền Trung - Tây Nguyên (gồm 2 tuyến cao tốc Bắc - Nam đi qua và 3 tuyến nữa, dài 264km), đường cao tốc khu vực phía Nam (ngoài 2 tuyến cao tốc Bắc - Nam còn có 6 tuyến nữa, dài 834km), hệ thống đường vành đai TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.
Hệ thống đường bộ đối ngoại với kết cấu hạ tầng tiên tiến, có tiêu chuẩn kĩ thuật phù hợp khu vực và thế giới (gồm 15 tuyến); Và hệ thống đường tỉnh; hệ thống đường đô thị.
Báo cáo đưa ra con số nhu cầu vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng GTĐB giai đoạn đến 2020 (tạm tính) là: 700.541 tỉ đồng. Mỗi năm bình quân cần 44.251 tỉ đồng cho đầu tư kết cấu hạ tầng GTĐB. Trong đó, đầu tư cho quốc lộ 150.685 tỉ đồng (mỗi năm 10.045 tỉ đồng), đường tỉnh 120.000 tỉ đồng (mỗi năm 8.500 tỉ đồng), đường đô thị Hà Nội và TP HCM 305.705 tỉ đồng (mỗi năm 17.765 tỉ đồng), giao thông nông thôn giai đoạn đến 2010 là 41,781 tỉ đồng, đến 2020 là 62.343 tỉ đồng (mỗi năm 6.941 tỉ đồng), hỗ trợ vận tải khách công cộng, nghiên cứu khoa học 10.000 tỉ đồng.
Con số này chưa tính đến đầu tư cho đường Hồ Chí Minh và đầu tư cho hệ thống đường cao tốc.
Đường Hồ Chí Minh có tổng mức đầu tư giai đoạn đến 2010 là 41.000 tỉ đồng. Giai đoạn đến 2020 sẽ được Quốc hội xem xét quyết định.
Vốn đầu tư hệ thống đường cao tốc, theo tờ trình Chính phủ số 7056/TTr-BGTVT ngày 5/11/2007 là 766.220 tỉ đồng cho 5.753 km.
Nếu chỉ đầu tư 2.639km, theo báo cáo, vốn đầu tư cho mỗi km đường cao tốc hiện nay khoảng trên 300 tỉ đồng, nhân với số km quy hoạch đưa ra, tổng số cần 791.700 tỉ đồng trong 12 năm, từ 2009 đến 2020, vậy mỗi năm cần tới 6.600 tỉ đồng chỉ riêng cho đầu tư xây dựng đường cao tốc.
Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng toàn ngành GTVT hiện mỗi năm khoảng 10.000 tỉ đồng/năm.
Con số quy hoạch lớn gấp 10 lần thực tế. Thật không có gì xa thực tế đến vậy.
Phương Dung Số lượt đọc:
165
-
Cập nhật lần cuối:
25/08/2008 08:46:33 AM |